Tỉnh Quảng Ninh từ lâu đã được ví như một “Việt Nam thu nhỏ” với những lợi thế thiên nhiên ban tặng không đâu có được. Với đường bờ biển dài hơn 250 km, hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ tạo nên những vùng vịnh kín gió và hơn 6.100 km² diện tích mặt nước biển, địa phương này sở hữu tiềm năng khổng lồ để phát triển kinh tế biển.
Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, ngành nuôi trồng thủy sản tại đây vẫn chủ yếu tồn tại ở hình thức manh mún, tập trung tại các vùng eo vịnh gần bờ, dẫn đến áp lực lớn về môi trường và hiệu quả kinh tế chưa tương xứng.
Đứng trước yêu cầu đổi mới, tỉnh Quảng Ninh đang quyết tâm thực hiện một cuộc cách mạng: chuyển dịch từ nuôi trồng truyền thống sang nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao và vươn mạnh ra vùng biển xa bờ.
Kiến tạo không gian tăng trưởng mới ngoài khơi xa
Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ninh đang xây dựng Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại. Đây là chiến lược tổng thể nhằm tổ chức lại không gian biển, đặc biệt là khu vực ngoài 6 hải lý. Mục tiêu cốt lõi của đề án là kiến tạo không gian dư địa mới, thu hút các nhà đầu tư lớn có năng lực về tài chính và công nghệ để hình thành nên một ngành công nghiệp nuôi biển bài bản, bền vững.

Công ty CP Mực nhảy Biển Đông vừa được giao hơn 200 ha để nuôi trồng thủy sản tại đặc khu Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Thu Báu.
Việc chủ động mở rộng và tổ chức lại quỹ mặt nước theo hướng này cho thấy tầm nhìn dài hạn của tỉnh trong việc giải quyết bài toán xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái vịnh.
Thực tế chứng minh Quảng Ninh đã bắt đầu có những bước đi đầu tiên đầy triển vọng. Trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện những mô hình nuôi biển ứng dụng công nghệ tiên tiến như hệ thống lồng tròn công nghiệp chịu được sóng gió lớn, hay công nghệ nuôi hàu theo tiêu chuẩn nước ngoài. Những cái tên như Công ty Cổ phần tập đoàn STP hay Hợp tác xã Thành Tuân đã tiên phong trong việc thay đổi tư duy sản xuất. Đặc biệt, sự xuất hiện của các dự án nuôi mực ống, mực nang tại khu vực xa bờ của Công ty Cổ phần Mực Nhảy Biển Đông đã khẳng định rằng vùng biển ngoài 6 hải lý của Quảng Ninh hoàn toàn có thể trở thành “mỏ vàng” cho những sản phẩm thủy sản đặc hữu, cao cấp.
Dẫu vậy, nhìn một cách tổng thể, số lượng các dự án quy mô lớn hiện nay vẫn còn khiêm tốn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một cơ sở pháp lý và quy hoạch đủ mạnh để kích hoạt dòng vốn đầu tư.
Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm thủy sản của miền Bắc, Quảng Ninh xác định quy hoạch phải đi trước một bước. Trong dự thảo Đề án, tỉnh đề xuất mở rộng thêm trên 100.000 ha mặt nước ngoài 6 hải lý, bổ sung vào diện tích hơn 45.000 ha đã được quy hoạch trước đó. Đây là một con số ấn tượng, thể hiện quyết tâm “vươn khơi” để giải phóng tiềm năng của vùng biển sâu.
Gỡ nút thắt hạ tầng, dọn tổ đón những ‘đại bàng’ biển khơi
Trao đổi với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường, ông Đỗ Đình Minh – Chi Cục trưởng Chi cục Biển, Hải đảo và Thủy sản, Kiểm ngư (Sở Nông nghiệp và Môi trường), cho biết việc hình thành các vùng nuôi tập trung tại Vĩnh Thực, Cái Chiên, Đầm Hà, Cô Tô và Vân Đồn sẽ giúp tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng sản lượng nuôi biển từ 8% đến 10% mỗi năm.
Quảng Ninh phấn đấu đến năm 2030, nuôi biển công nghiệp sẽ chiếm trên 75% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của toàn tỉnh, tạo ra bước đột phá về giá trị gia tăng.
Tuy nhiên, con đường tiến ra biển khơi không chỉ có thuận lợi. Những thách thức về hạ tầng dùng chung và dịch vụ hậu cần đang là rào cản lớn nhất đối với các doanh nghiệp. Theo ông Minh, nuôi biển xa bờ đòi hỏi mức đầu tư rất lớn cho hệ thống lồng bè vật liệu mới như HDPE, hệ thống giám sát từ xa và quan trắc môi trường tự động. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất con giống tại chỗ vẫn còn hạn chế, sự liên kết giữa các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ còn lỏng lẻo. Đặc biệt, việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi và chính sách bảo hiểm cho nuôi biển – một lĩnh vực vốn được coi là rủi ro cao vẫn còn nhiều vướng mắc về mặt thủ tục.
“Những nút thắt đó nếu không được tháo gỡ kịp thời sẽ khiến các nhà đầu tư chùn bước trước sóng gió của đại dương”, ông Đỗ Đình Minh trăn trở.

Trang trại nuôi biển công nghệ cao tại Vân Đồn của STP Group. Ảnh: Cường Vũ.
Để giải quyết những bài toán khó này, Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh đã tập trung sâu vào các giải pháp mang tính bền vững và đồng bộ. Tỉnh Quảng Ninh sẽ không chỉ dừng lại ở việc giao khu vực biển mà còn hướng tới việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật dùng chung, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp tiếp cận khoa học công nghệ.
Theo lộ trình dự kiến, ngay sau khi Đề án được phê duyệt vào đầu quý II năm 2026, Quảng Ninh sẽ bước vào giai đoạn thực thi mạnh mẽ. Tỉnh sẽ công bố công khai phạm vi, ranh giới các vùng nuôi tập trung và đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục giao khu vực biển cho các tổ chức, cá nhân. Đây là tín hiệu quan trọng gửi tới cộng đồng nhà đầu tư về một môi trường kinh doanh minh bạch và đầy tiềm năng.
Việc sắp xếp lại các cơ sở nuôi trồng theo từng phân khu sản xuất tập trung sẽ giúp quản lý dịch bệnh hiệu quả hơn, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng thương hiệu thủy sản Quảng Ninh trên bản đồ quốc tế.
Sự chuyển mình của ngành nuôi biển tỉnh Quảng Ninh không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị và xã hội sâu sắc. Phát triển nuôi biển xa bờ gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho cư dân ven biển, giúp người dân thay đổi từ tư duy “khai thác” sang “nuôi trồng” bền vững. Khi các vùng nuôi công nghiệp hiện đại đi vào hoạt động, chúng sẽ trở thành những “công xưởng trên biển”, cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành cực tăng trưởng toàn diện của khu vực phía Bắc.
Quảng Ninh đang nghiên cứu các cơ chế chính sách đặc thù nhằm khuyến khích tích tụ, tập trung mặt nước biển, ưu đãi về thuế và tín dụng để thu hút các “đầu tàu” kinh tế dẫn dắt chuỗi liên kết. Việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong nuôi biển, như nuôi ghép đa tầng hay tái sử dụng phụ phẩm, cũng được xác định là hướng đi tất yếu để đảm bảo môi trường biển luôn xanh và sạch, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
