LTS: Lào Cai từ lâu được biết đến là một trong những vùng chè lớn của cả nước. Nhờ sự ưu đãi về khí hậu và thổ nhưỡng, nơi đây đã hình thành những vùng chè chất lượng cao nức tiếng tại Mường Khương, Bản Lầu, Bảo Nhai, Văn Chấn, Nghĩa Lộ, Liên Sơn… Đặc biệt là các quần thể chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi, vươn mình kiêu hãnh giữa mây ngàn Y Tý, A Mú Sung, Cao Sơn, Suối Giàng, Phình Hồ…
Thế nhưng, giá trị chè Lào Cai chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Với khát vọng định vị thương hiệu “Chè Lào Cai”, địa phương đã và đang tập trung thu hút các doanh nghiệp chế biến hiện đại, vận động bà con thay đổi phương thức sản xuất theo chuẩn an toàn, canh tác hữu cơ nhằm chinh phục các thị trường xuất khẩu cao cấp.
Tất cả đang cùng nhau thay đổi tư duy và hành động, biến cây chè không chỉ là sứ mệnh xóa đói giảm nghèo mà phải trở thành chìa khóa làm giàu bền vững.

Vùng chè Liên Sơn được hình thành từ những năm 70 của thế kỷ trước. Ảnh: Thanh Tiến.
Chuyện ở vùng chè Liên Sơn
Những luống chè xanh mướt, trải dài như những dải lụa xanh. Cảnh quan tuyệt đẹp ấy cũng là sinh kế của hàng trăm hộ dân ở xã Liên Sơn, tỉnh Lào Cai.
Tôi tìm gặp ông Trần Quang Chất ở thôn 1, xã Liên Sơn. Ông Chất năm nay đã ngoài 70, gắn bó với nơi đây đã hơn nửa thế kỷ, có thể xem là một chuyên gia bởi ông am hiểu khá cặn kẽ đất, người và chè Liên Sơn.
Nhớ lại những ngày đầu gian khó đi khai hoang, ông Chất chia sẻ: “Ngày trước nơi đây là vùng đồi núi hoang vu, khi đi đánh gốc cây để trồng chè, chúng tôi còn thấy cả đàn lợn rừng chạy qua”.

Cây chè giúp hàng trăm hộ dân Liên Sơn có đời sống ốn định. Ảnh: Thanh Tiến.
Nông trường quốc doanh Liên Sơn hình thành từ năm 1971 – 1972 với vỏn vẹn 17 cán bộ. Sau đó, công nhân chủ yếu từ miền xuôi được tuyển lên để cuốc đất hoang và kiến thiết những nương chè đầu tiên. Giống chè ban đầu được sử dụng là chè trung du trồng bằng hạt. Tuy nhiên sau một thời gian, nhận thấy năng suất và khả năng chịu hạn kém, người dân đã đổi mới bằng cách lấy cành chè từ Phú Thọ về cắm. Nhờ đặc tính vượt trội, giống chè mới chỉ mất 3 – 4 năm là có thể cho thu hoạch, năng suất cao và chịu được thời tiết khắc nghiệt.
Trong suốt những năm 80 của thế kỷ trước đến khoảng những năm 2000, người lao động làm việc theo chế độ bao cấp, sự thay đổi của vùng chè Liên Sơn chỉ đến khi chính sách khoán được áp dụng.
“Từ khi chuyển sang giao khoán, người dân tự canh tác, tự chăm sóc và nộp thuế đất cho Nhà nước, sản phẩm bán cho công ty bao tiêu. Việc tự chủ đất đai, cảnh tác đã thổi luồng sinh khí mới. Đời sống bà con khởi sắc rõ rệt, nhiều gia đình đã xây dựng được nhà cửa khang trang, sắm sửa phương tiện đi lại hiện đại”, ông Chất bộc bạch.

Người dân xã Liên Sơn thu hái chè búp tươi bán cho thương lái. Ảnh: Thanh Tiến.
Nhưng con đường phát triển không phải lúc nào cũng êm ả, điển hình như giai đoạn chiến tranh Iraq bùng nổ, thị trường xuất khẩu chè bị ảnh hưởng nặng nề khiến giá cả bấp bênh, đời sống bà con lao đao. Nhưng nhờ sự tuyên truyền, vận động của chính quyền địa phương, người dân vẫn vững lòng bám trụ lấy đồi chè cho đến ngày nay.
Ngày nay, phương thức canh tác chè tại Liên Sơn đã mang dáng dấp của nền nông nghiệp tiên tiến. Máy móc đã thay thế cho hái tay thủ công, giúp sản lượng chè tăng lên từ 17 – 20 tấn/ha/năm. Với mức giá trung bình khoảng 3.700 đồng/kg chè búp tươi để sản xuất chè đen, mỗi hecta mang lại thu nhập hàng chục triệu đồng.
Nhà máy đóng cửa, đứt gãy chuỗi liên kết
Mặc dù cây chè bao năm nay vẫn đảm bảo thu nhập ổn định giúp người dân sống được, nhưng để có thu nhập cao, tương xứng với tiềm năng thì vẫn là bài toán trăn trở.

Khu vực nhà máy chè đã ngừng hoạt động. Ảnh: Thanh Tiến.
Ông Vũ Đức Trung, Bí thư Đảng ủy xã Liên Sơn cho biết, trước đây xã từng có một nhà máy thuộc Tổng Công ty chè Việt Nam chuyên thu mua, chế biến sản phẩm chè ngay tại địa phương. Tuy nhiên, sau quá trình cổ phần hóa và chuyển giao cho một đơn vị tại Phú Thọ, nhà máy hoạt động ngày càng kém hiệu quả. Khoảng 4 năm trở lại đây, nhà máy đã cửa đóng then cài, toàn bộ hệ thống hạ tầng, kho tàng, lò sấy đều đã hư hỏng, bỏ hoang.
Khi nhà máy dừng hoạt động, việc tiêu thụ chè phụ thuộc hoàn toàn vào tư nhân và thương lái nơi khác đến. Điều này dẫn đến nghịch lý là tiến độ sản xuất không được kiểm soát. Khi chè rộ lứa, thương lái thu mua ồ ạt, nhưng khi đủ hàng, người dân phải chờ, khiến chè bị già, quá lứa. Ngược lại, có lúc thiếu hàng, thương lái lại giục cắt chè khi búp vẫn còn non. Nông dân không thể chủ động canh tác theo đúng quy trình sinh trưởng của cây chè.

Sản phẩm chè của người dân Liên Sơn còn phụ thuộc vào thương lái từ nơi khác đến. Ảnh: Thanh Tiến.
Với mức giá dao động từ 3.500 – 4.000 đồng/kg búp tươi, người dân cứ tự sản xuất theo kinh nghiệm. Thương lái thu mua cũng không quan tâm đến tiêu chuẩn chè sạch hay bẩn, dẫn đến việc quản lý dư lượng thuốc BVTV vô cùng khó khăn.
“Người dân thấy chè có bệnh là phun, biết phải cách ly mới đảm bảo, nhưng cứ thấy thương lái đến mua hoặc nhích giá lên một chút là họ cắt bán”, ông Trung lo ngại.
Kiến tạo vựa chè xanh
Trước thực trạng đó, nhiều câu hỏi được đặt ra về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tuy nhiên, định hướng của xã là không phá bỏ vùng chè.

Xã Liên Sơn đang nỗ lực tìm giải pháp thu hút doanh nghiệp chế biến chè về địa phương. Ảnh: Thanh Tiến.
Theo ông Vũ Đức Trung, Bí thư Đảng ủy xã Liên Sơn, diện tích chè của xã hiện lên tới hơn 500 ha, một vài nhà muốn chuyển đổi sang cây trồng khác cũng rất khó khăn và không thể làm lác đác. Giải pháp địa phương đang hướng tới là trồng xen cây mắc ca để tạo thu nhập kép trên cùng đơn vị diện tích, đồng thời dồn lực thay đổi phương thức sản xuất.
Để giải quyết tận gốc vấn đề, Liên Sơn đang tích cực chuẩn bị các điều kiện để thu hút nhà đầu tư. Địa phương đã quy hoạch 1 đến 2 điểm đất sản xuất kinh doanh, mỗi khu rộng từ 10 – 20 ha với điều kiện giao thông thuận lợi. Hiện các khu vực này đang là đất rừng sản xuất hoặc nương chè kém hiệu quả. Khi có doanh nghiệp tâm huyết đến, chính quyền và người dân sẵn sàng đồng thuận giải phóng mặt bằng để xây dựng nhà máy.
Chỉ khi có nhà máy chế biến tại chỗ, mối liên kết giữa nhà máy – chính quyền – người dân mới được thiết lập thành chuỗi khép kín. Từ đó, doanh nghiệp đưa ra tiêu chuẩn, chính quyền quản lý và người dân buộc phải thay đổi tư duy sản xuất chè theo tiêu chuẩn an toàn, bền vững.

Xã Liên Sơn cũng định hướng sản xuất chè sạch gắn với phát triển du lịch. Ảnh: Thanh Tiến.
Hiện xã Liên Sơn đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lào Cai vận động hơn 20 hộ dân tiên phong tham gia sản xuất chè sạch trên diện tích 10 ha. Để làm được chè sạch, bà con phải mất 2 đến 3 năm cải tạo, kiên quyết không dùng thuốc diệt cỏ, không phun hóa chất độc hại để trả lại môi trường tự nhiên trong lành. Bước đầu, bà con đồng thuận cao vì họ hiểu rằng lạm dụng hóa chất đang trực tiếp đe dọa sức khỏe của chính mình.
Ông Trung phân tích thêm, hiện có những doanh nghiệp đến đặt vấn đề sản xuất chè VietGAP, chè matcha với nhu cầu xuất khẩu rất lớn, nhưng họ yêu cầu vùng nguyên liệu phải sạch ngay. Trong khi người dân cần điểm tựa, không thể bảo họ tự làm chè sạch 2 đến 3 năm mà doanh nghiệp phải đồng hành. Phải có nhà đầu tư đến hướng dẫn kỹ thuật và cam kết đầu ra với mức giá cao hơn để bù đắp sự sụt giảm năng suất trong những năm đầu cải tạo đất.
“Cần sự chung tay như thế, người dân Liên Sơn mới thực sự yên tâm thay đổi phương thức, kiến tạo nên vựa chè xanh, sạch để hướng tới thị trường lớn”, ông Trung nhấn mạnh.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
